Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

AI nói gì về bài thơ LUÂN HỒI XANH

 

AI nói gì về bài thơ

LUÂN HỒI XANH

 

Bút gẫy, nghiên trào mực tím

Cây súng lằn da, chỉ thiên, chỉ địa, lúc ngang nòng,

mở đường rừng, đường hào, đường chiến chinh,

núi cao biển sâu, đi suốt đêm thâu,

đón ánh bình minh,

níu ánh chiều ngắm nhìn gương mặt bạn.

Tuổi ấu thơ theo người khóc tiễn người ra bãi tha ma.

Tôi chỉ trào nước mắt một lần

khi bạn kéo lên xe thùng,

thấy mẹ mình ôm em gái khóc.

Rồi từ đó:

Trái tim chìm vào rừng xanh, sông sâu, đất lạnh.

Gương mặt đá cứng ở trên ngàn,

khô như ngói chùa trăm gian, ngàn tuổi.

Chiến trường đâu phải “mùa xuân tuổi trẻ”:

Ngọn lửa bên này thiêu đốt lửa hung tàn bên kia,

đuổi xua quân xâm lược.

Chiến lũy cao, hào uốn lượn, hầm sâu mấy lớp, bãi mìn,

chốt chặn lũ xâm lăng.

Những tháng năm xa dân,

sống với thiên nhiên tình cảm.

Những chàng trai chiến trận

quên mình vì đất nước quê hương.

Máu vẫn chảy về tim,

“cặp vé khứ hồi” đã được đời miễn phí.

Anh về đất, tan vào đất, lắng lọc dòng sâu

cho người sống mang về tập vé khứ hồi.

Tôi thả từng chiếc vé vào trong gió

cùng mảnh mảnh thư tình dở dang không địa chỉ,

mang về làm chi,

không để mẹ buồn.

Lùi về ngàn xưa cha ông mình dựng nước,

giữ yên bờ cõi, mở mang bãi lúa nương dâu.

Bao đời chiến chinh loạn lạc,

lớp trai xưa khác gì chúng tôi hôm nay,

hồn về đất mẹ.

Người lính, ơi người lính!

quân hàm không còn thấp hơn được nữa,

thân hồn bay cùng gió ngàn khơi,

ngược non cao, không còn dấu vết.

Am miếu đình chùa,

tượng đài ghi công danh chiến trận lẫy lừng,

sử xanh ghi chiến công tướng lĩnh, quân dân.

Trận chiến nhỏ như săn đàn thỏ,

những đội hình bất xứng, chết oai linh.

Các anh về với cỏ cây, ngời xanh mắt lá.

Đất chứng giám, trời ghi danh,

còn ai sống kể công, viết truyện.

Nơi đâu trên đất nước mình

nếu không đất cát, bùn lầy, kẽ đá,

gốc cây, bàn tay thân ái…cắm nắm hương

thì xi măng, gỗ thép, plastic, mặt nước,…khoảng không

hãy đặt lên khoanh chuối, bát hương,  nhành hoa

cúng viếng  hồn trai chưa một lần hôn môi con gái,

từ ngàn xưa đến nay quên mình vì độc lập tự do.

Trước chiến trận, người chỉ huy ra lệnh :

Nếu chưa giết được giặc thì phải sống,

hết giặc về chăm mẹ, yêu em.

Ai phù hộ tôi đi qua cái chết,

bạn tội lỗi gì không sống đến hôm nay?

Những chùm pháo bầy, toán quân biệt kích,

đói rét bệnh tật, tai nạn, thiên tai, …

hái hoa bờ sông thấy xác người bồng bềnh trôi theo dòng lũ,

hái rau rừng gặp mồ đất mới

bó hương giả, ruột tre tươi không cháy.

Tấm bia đâu?

 

Phải chăng ai đó xa xôi

hay rất gần thương thân tôi,

hay thương “người” đã nhiều lần bất hạnh

được đầu thai lần cuối phải yên lành!

Thương cánh đồng lúa hoa thì con gái,

thương em đi cấy mạ ống lỡ thời.

Tháng năm ấy tôi đâu có biết,

những xóm làng, ngõ phố vắng con trai.

Những đám tang, con gái đàn bà đào huyệt,

đám cỗ bàn, giỗ chạp rượu tràn sân.

Em hất xuôi tuổi xuân vào tháng năm khô khốc,

em hắt ngược chén rượu tình bi tráng vượt bờ vai.

Sáng em ra bờ sông hái hoa cài mái tóc,

Sóng nước vỗ dịu dàng hy vọng ngày mai!

Vầng trăng khuyết đến bây giờ vẫn lẹm,

một chiếc giầy thất lạc đến ngàn năm.

Ai đắp đổi tình yêu đợi chờ chàng trai chinh chiến?

Hồn ai còn thương nhớ mến yêu em?

Có lẽ mẹ thương con nhiều hơn tất cả.

Mẹ xót giọt máu hồng viễn xứ Cánh Đồng Chum,

Giọt máu đào thấm đất rừng xăng lẻ

Trường Sơn ơi! Con yên nghỉ đại ngàn

Máu tình nguyện xanh núi rừng Đăng -rếch,

Máu tuổi trẻ trôi hồng sông nước biên cương,

Hòa nước biển mặn mòi

Sống chết kỳ cùng danh giá một đời trai.

Mẹ ngậm ngùi, còn sức đâu mà khóc.

Hương lụi tàn, hương tỏa tận âm ty.

….

Nay trên đời lớp lớp con trai

trí lực tình trẻ trung như ngày tôi ra trận,

sống hồn nhiên theo dòng thời gian trôi về phía trước.

Các anh xưa, bạn tôi không chết.

Được một lần hóa kiếp chọn bào thai.

Tôi gần như nguyên lành cùng bao người tàn phế,

cầm cuống vé khứ hồi mong được sống bình yên.

***

Khói lam chiều mẹ gọi về ăn cơm

Khói hương tỏa sớm hôm chân Thành cổ

Khói xanh lơ xanh một thời trai trẻ

Khói nhẹ nhàng như sống chết hồn nhiên.

Nguồn “ Trường ca Hà Nội Một thời trai chinh chiến”

 

 

AI phân tích bài thơ :

 

Bài thơ "Luân Hồi Xanh" là một bản trường ca thu nhỏ về nỗi đau hậu chiến, sự hy sinh thầm lặng và triết lý về sự bất tử của người lính. Dưới đây là phân tích khách quan về tác phẩm này dựa trên các phương diện nội dung và nghệ thuật:

1. Chủ đề và Tư tưởng chủ đạo

Tác phẩm không chỉ đơn thuần là bài thơ tưởng niệm đồng đội mà còn là một suy ngẫm sâu sắc về sự luân hồi của sự sống và cái chết.

  • Sự hy sinh vì lý tưởng: Người lính ngã xuống không phải là sự kết thúc mà là sự hòa nhập vào thiên nhiên ("về với cỏ cây", "tan vào đất").
  • Triết lý "Luân hồi xanh": Màu xanh của quân phục, màu xanh của tuổi trẻ và màu xanh của cỏ cây trên mộ liệt sĩ hòa quyện làm một. Tác giả nhìn nhận cái chết của đồng đội là một sự "hoá kiếp", nuôi dưỡng sự sống cho thế hệ sau ("cho người sống mang về tập vé khứ hồi").

2. Hình tượng người lính: Giữa lãng mạn và bi tráng

Tác giả đã tháo bỏ lớp vỏ "anh hùng hóa" thường thấy để nhìn người lính ở góc độ con người nhất:

  • Nỗi đau thực tế: Chiến trường không chỉ có hoa hồng mà còn có "đói rét bệnh tật", "xác người bồng bềnh", "mồ đất mới". Hình ảnh "hồn trai chưa một lần hôn môi con gái" gợi lên sự xót xa tột cùng về những hạnh phúc lứa đôi bị dở dang.
  • Vị thế của người lính: Câu thơ "Quân hàm không còn thấp hơn được nữa" là một sự quan sát sắc sảo. Khi đã nằm xuống, mọi cấp bậc đều trở nên vô nghĩa, họ chỉ còn là "người lính" chung nhất, hòa vào hồn thiêng sông núi.

3. Hình tượng những người phụ nữ phía sau

Bài thơ dành một thời lượng lớn để nói về người mẹ và người em gái – những người chịu đựng sức nặng của cuộc chiến ở hậu phương:

  • Người mẹ: Là hiện thân của sự hy sinh và đau khổ tận cùng ("mẹ ngậm ngùi, còn sức đâu mà khóc"). Nỗi đau của mẹ trải dài từ Cánh Đồng Chum đến Trường Sơn, Đăng-rếch.
  • Người em gái: Hình ảnh em "hất ngược chén rượu tình bi tráng" và "đợi chờ chàng trai chinh chiến" khắc họa vẻ đẹp kiên trinh nhưng cũng đầy bi kịch của người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh.

4. Đặc sắc về nghệ thuật

  • Ngôn ngữ và Hình ảnh: Tác giả sử dụng nhiều hình ảnh đối lập: "bút gẫy" – "mực tím", "máu đỏ" – "núi rừng xanh", "khói lam chiều" – "khói hương". Đặc biệt, hình ảnh "tấm vé khứ hồi" là một ẩn dụ đắt giá: người lính đi không trở lại để dành "vé về" cho những người khác và cho hòa bình dân tộc.
  • Nhịp điệu và Giọng điệu: Bài thơ có nhịp điệu tự do, biến linh hoạt theo mạch cảm xúc: lúc dồn dập như tiếng súng, lúc trầm lắng như lời khấn nguyện trước nấm mồ không tên. Giọng điệu chủ đạo là bi tráng – buồn nhưng không bi lụy, mà lồng lộng niềm tự hào.

5. Ý nghĩa của khổ kết

Khổ thơ cuối cùng đưa người đọc trở về với thực tại bình yên qua hình ảnh "khói":

"Khói lam chiều mẹ gọi về ăn cơm
Khói hương toả sớm hôm chân Thành cổ
Khói xanh lơ xanh một thời trai trẻ
Khói nhẹ nhàng như sống chết hồn nhiên."

Cái chết ở đây được nhìn nhận với một thái độ "hồn nhiên". Đó là sự thanh thản của những người đã làm tròn bổn phận với đất nước. Sự sống và cái chết đan xen qua làn khói, tạo nên một vòng luân hồi bất tận của lòng yêu nước và sự tiếp nối giữa các thế hệ.

Tổng kết: "Luân Hồi Xanh" là một bài thơ có sức nặng về tư tưởng, thể hiện cái nhìn nhân văn và sự thấu cảm sâu sắc của một người cầm súng về những đồng đội đã hóa thân vào bờ cõi.

Bạn có muốn đi sâu vào phân tích một hình ảnh cụ thể nào trong bài như "tấm vé khứ hồi" hay "hình tượng người mẹ" không?

==========

 

Trong bài thơ "Luân Hồi Xanh", hình ảnh "tấm vé khứ hồi" là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo, mang đậm tính triết lý và nhân văn của tác giả. Đây không chỉ là một ẩn dụ về sự sống - cái chết mà còn là biểu tượng của sự hy sinh cao cả.

Dưới đây là phân tích chi tiết về hình ảnh này:

1. Ý nghĩa tả thực: Khát vọng ngày trở về

Trong ngôn ngữ đời thường, "vé khứ hồi" là tấm vé đảm bảo cho một chuyến đi có ngày về. Đối với mỗi người lính ra trận, khát vọng lớn nhất bên cạnh độc lập dân tộc chính là được bình yên trở về với gia đình, với mẹ và người thương. Tác giả viết: "Máu vẫn chảy về tim / cặp vé khứ hồi đã được đời miễn phí". Ở đây, "miễn phí" không phải là sự ban ơn, mà là sự đánh đổi bằng máu xương để có được quyền được sống, được trở về.

2. Sự hoán đổi bi tráng: Đi cho người khác về

Điểm xúc động nhất của hình ảnh này nằm ở sự sẻ chia giữa những người đồng đội:

"Anh về đất, tan vào đất, lắng lọc dòng sâu
cho người sống mang về tập vé khứ hồi."

Người lính ngã xuống đã tự nguyện nhường "phần sống" của mình cho người ở lại. Tấm vé của anh đã trở thành "vé một chiều" để đồng đội mình có tấm "vé khứ hồi". Sự hy sinh này biến cái chết thành một sự "lắng lọc", làm sạch con đường để thế hệ sau được đi trên hành trình bình yên.

3. Hành động "thả vé vào gió": Sự thanh thản và nuối tiếc

"Tôi thả từng chiếc vé vào trong gió
cùng mảnh mảnh thư tình dở dang không địa chỉ
mang về làm chi / không để mẹ buồn."

Nhân vật trữ tình – người may mắn sống sót – đã không giữ tấm vé đó cho riêng mình như một chiến tích. Anh thả chúng vào gió cùng những bức thư tình dang dở.

  • Về tâm linh: Đây là hành động hóa thân, gửi linh hồn đồng đội vào hư không, vào trời đất.
  • Về nhân văn: Anh không muốn mang những kỷ vật đau thương về để "mẹ không buồn". Đó là sự tinh tế của người lính: bảo vệ người thân khỏi nỗi đau mất mát bằng sự im lặng thành kính.

4. Kết nối hiện tại: Trách nhiệm của người sống

Ở phần cuối bài thơ, hình ảnh này lặp lại: "Cầm cuống vé khứ hồi mong được sống bình yên". Người sống hôm nay cầm trên tay "cuống vé" – một phần di sản của người đi trước. Nó nhắc nhở rằng sự bình yên hiện tại không tự nhiên mà có; nó được xé ra từ tập vé mà những người nằm lại đã đánh đổi bằng cả tuổi trẻ.

 

Tổng kết:
Hình ảnh "tấm vé khứ hồi" đã nâng tầm bài thơ từ một lời than khóc thành một bản anh hùng ca về sự vị tha. Nó khẳng định một chân lý: người lính ngã xuống không phải là mất đi, mà là hóa thân thành cơ hội sống, thành tương lai xanh cho những người ở lại.

Bạn có muốn phân tích thêm về "hình tượng người mẹ" trong bài thơ để thấy sự đối lập giữa "tấm vé khứ hồi" của con và nỗi đau ở lại của mẹ không?

=====

Sự liên tưởng của bạn giữa "vịn mòn cửa" (trong thơ Hữu Thỉnh) và "khói lam chiều mẹ gọi về ăn cơm" thực sự rất tinh tế và đắt giá. Cả hai hình ảnh đều chạm đến tận cùng của nỗi đau hậu chiến thông qua những biểu tượng của sự chờ đợi vô vọng.

Sự "ám ảnh" ở đây nằm ở ba khía cạnh đối lập cực hạn:

  1. Cái hữu hình đối lập với cái vô hình:
    • Cánh cửa gỗ mòn đi vì bàn tay mẹ vịn chờ con là cái đau có thể chạm tới được, là dấu vết của thời gian đằng đẵng.
    • Ngược lại, làn khói lam chiều và tiếng gọi con lại mong manh, hư ảo. Mẹ gọi vào thinh không, gọi một linh hồn đã tan vào đất đá. Sự đối lập giữa âm thanh ấm áp của đời thường ("về ăn cơm") với sự im lặng vĩnh hằng của người lính tạo nên một khoảng trống đến nghẹt thở.
  2. Sự bình thường đối lập với sự bất thường:
    • "Gọi về ăn cơm" là hành động đời thường nhất, bình yên nhất của mọi gia đình. Nhưng đặt trong bối cảnh người con đã hy sinh ("khói hương tỏa sớm hôm chân Thành cổ"), tiếng gọi ấy trở nên bất thường, đầy bi kịch. Nó cho thấy dù chiến tranh đã lùi xa, mẹ vẫn sống trong một miền thời gian riêng – nơi con mẹ vẫn còn là đứa trẻ tan học chưa về.
  3. Sự khép lại vòng "Luân hồi xanh":
    • Nếu "vịn mòn cửa" là hình ảnh của sự mòn mỏi, thì "khói lam chiều" lại là sự hóa thân.
    • Tiếng gọi của mẹ như một sợi dây níu giữ linh hồn người lính từ "âm ty", từ "ngàn khơi" trở về với gian bếp ấm. Nó biến cái chết từ sự chia lìa trở thành một cuộc đoàn viên trong tâm tưởng. Làn khói xanh lơ của tuổi trẻ hòa vào khói bếp, khép lại vòng luân hồi một cách nhẹ nhàng nhưng đau xót.

Hai hình ảnh này khi đặt cạnh nhau đã tạc nên bức tượng đài bất tử về Người Mẹ Việt Nam: một người đứng ở ngưỡng cửa nhân gian, một người đứng giữa lằn ranh thực và ảo, cả hai đều dùng tình yêu thương để chống lại sự tàn nghiệt của thời gian và cái chết.

Bạn có cho rằng chính cái "nhẹ nhàng như sống chết hồn nhiên" ở câu cuối cùng lại chính là điều khiến người đọc thấy đau lòng hơn cả sự than khóc không?

 

====

Cái gật đầu của bạn trước câu thơ này cho thấy một sự thấu cảm sâu sắc. Thông thường, cái chết trong chiến tranh luôn đi kèm với sự khốc liệt, gào thét hoặc bi lụy. Nhưng ở đây, tác giả dùng hai chữ "hồn nhiên" – một từ vốn chỉ dành cho con trẻ, cho sự trong sáng không gợn chút ưu tư.

Chính cái sự "nhẹ nhàng" ấy mới là nhát dao cứa lòng người đọc nhất, bởi:

  1. Sự chấp nhận tận cùng: Người lính đi vào cái chết thanh thản như cách họ đi vào giấc ngủ, hay như cách làn khói tan vào không trung. Họ không oán thán, không mặc cả với cuộc đời. Sự "tất yếu" mà bạn cảm nhận được chính là thái độ bình thản của những người đã dâng hiến trọn vẹn, khiến người ở lại thấy xót xa vì cái giá của hòa bình sao mà thanh thản đến đau lòng.
  2. Sự đối lập nghiệt ngã: "Hồn nhiên" là trạng thái của sự sống đang bắt đầu, nhưng lại được dùng để mô tả cái chết. Nó cho thấy những người lính ấy nằm xuống khi tâm hồn vẫn còn xanh trong, chưa kịp vướng bụi trần, chưa kịp "hôn môi con gái". Cái chết đến với họ khi họ vẫn còn quá trẻ, và họ đón nhận nó bằng bản chất thuần khiết nhất của mình.
  3. Hóa giải mọi bi kịch: Câu thơ không có tiếng gào khóc, không có tiếng súng, chỉ có làn khói "xanh lơ" và sự "nhẹ nhàng". Nó nâng tầm sự hy sinh từ một bi kịch cá nhân thành một triết lý về sự tồn tại. Họ không mất đi, họ chỉ chuyển hóa từ thực thể sang một dạng thức khác của thiên nhiên, của màu xanh đất nước.

Bạn khóc, có lẽ không phải vì sợ hãi cái chết, mà vì thương cái tâm thế quá đỗi bao dung của những người lính. Họ đã đi qua những "trận chiến nhỏ như săn đàn thỏ", qua những đói rét bệnh tật, để rồi cuối cùng để lại một nụ cười thanh thản trong làn khói lam chiều.

Trong cả bài thơ dài đầy rẫy những ám ảnh, câu kết này giống như một lời kinh cầu nguyện, xoa dịu linh hồn người đã khuất nhưng lại để lại một nỗi nghẹn ngào khôn nguôi cho người đang sống.

Bạn có thấy rằng cái sự "hồn nhiên" này cũng chính là cách mà người lính an ủi ngược lại người mẹ và người bạn ở lại không?

 

 

Chính xác là như vậy. Sự "hồn nhiên" ở đây không còn là sự ngây thơ, mà đã trở thành một vị tha cao thượng. Người lính khi nằm xuống đã hoàn thành một "phép chuyển đổi" tâm linh đầy bao dung để an ủi những người thân yêu:

1.    Với người mẹ: Anh như muốn nói với mẹ rằng cái chết không hề đau đớn hay nặng nề. Anh về với đất như khói về với trời, như đứa trẻ chơi mệt rồi nằm ngủ trong lòng mẹ thiên nhiên. Làn khói "nhẹ nhàng" ấy như một bàn tay hư ảo vuốt ve nỗi đau của mẹ, khuyên mẹ đừng "ngậm ngùi" quá sức, bởi con vẫn hiện diện trong làn khói bếp mỗi chiều, trong màu xanh của cỏ cây quanh nhà.

2.    Với người bạn (người ở lại): Tác giả – người cầm "cuống vé khứ hồi" – luôn mang mặc cảm của người sống sót ("bạn tội lỗi gì không sống đến hôm nay?"). Sự "hồn nhiên" của người ngã xuống chính là lời giải thoát cho tâm hồn người ở lại. Nó xóa đi sự tự vấn, giúp người sống bớt đau khổ và mặc cảm để tiếp tục sống một cách "bình yên" như tâm nguyện của người đã khuất.

3.    Biến cái chết thành sự sống: Bằng cách xem cái chết là "hồn nhiên", người lính đã biến mình thành một phần của "Luân hồi xanh". Họ an ủi rằng họ không mất đi, họ chỉ đang "đầu thai lần cuối" vào dáng hình đất nước.

Sự an ủi này không dùng lời nói, mà dùng sự tĩnh lặng và thanh thản. Nó biến niềm đau thành sự thành kính, biến nước mắt thành sự trân trọng. Người lính ra đi thanh thản để người ở lại có thể sống tiếp mà không bị dìm trong bi lụy.

Phải chăng vì thế mà dù bài thơ nói về cái chết, nhưng đọng lại cuối cùng vẫn là một màu "xanh" đầy hy vọng và sự sống?

 

 

 

 

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026



Kính chúc bạn đọc Blog này, Năm mới 2026  an khang thịnh vượng cùng người thân yêu.

Trân trọng.

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2025

CÁCH MẠNG THÁNG 8, QUỐC KHÁNH 2.9- 1945

 CÁCH MẠNG THÁNG 8, QUỐC KHÁNH 2.9- 1945

(trích trường ca Hồ Chí Minh, Nxb BL 2020)


Tân Trào rừng thẳm thưa dân

Hơn đứt Bắc Cạn Chu quân dọn đường

Đã từng đọc vận đế vương

Cụ vào lán nứa xa nương tài mà

Chiến tranh Nhật- Mỹ ở Ta

Sỹ quan binh lính trình gà mờ thôi

Trung úy Sao bị bắn rơi

Trong trận không chiến trên trời biên cương

Chiến công tự đến bất thường

Bất chiến mà thắng đế vương đã từng

Ông Cụ rất đỗi vui mừng

Đón phi công Mỹ trong rừng nguyên sinh

Kế hoạch giao cho Đồng minh

Hổ Bay sướng đến giật mình ký ngay

Giấy tờ đi lại hàng ngày

Côn Minh, Trùng Khánh vung tay chuyện trò

Pát ty bên Mỹ hỏi dò

Quân của cụ Ké bây giờ ở đâu?

Cụ rằng: ở chỗ nông sâu

Toàn dân tự vệ  hóng chầu Đồng minh

Hành lang vận động lý tình

Pháp, Tưởng, Mỹ quốc, Cụ khinh Mao rồi

Cà phê tiệc nhẹ cùng mời

Các hàng tướng tá bên trời Vân Nam

Chặn ý đồ Tưởng tràn sang

Nhận đồ tiếp vận nhiều hàng hóa hay

Phía Mỹ thực dụng đưa ngay

Mỹ kim một xấp bạc dầy xanh lơ

Ông Cụ cảm ơn xin chờ !

Đội đặc nhiệm đến đúng giờ hay hơn

Cơ hội hợp tác vuông tròn

Tiếc thay bên Mỹ chờn vờn ngó nghiêng...


Trở về Khu chiến Cụ nghiền

Dụng binh Tôn Tử sách biên rõ ràng

Hỏa công lừa địch dọc ngang

Nghi binh bằng trống rộn ràng khắp nơi

Soạn ra rất nhiều tờ rơi

Đưa về xuôi dọa dụ người địch ta


Nhóm biệt kích Mỹ đã qua

Lũng Cò dù trắng ngỡ ma nhà Trời

Anh Văn thấp bé nhẹ còi

Tô Mát đội trưởng cứ đòi Cụ Vương

Hai bên tổ chức thao trường

Thực binh kiểu Mỹ nhiều chương luyện rèn

Lũng Cò lấp lánh ánh đèn

Cụ Vương Tô Mát ngồi bên rượu trà

Chuyện nhiều sơ ý lộ ra

Đội Con Nai biết ông già này hay

Từng đến Mỹ quốc nhiều ngày

Xem thần tượng nữ phơi bày Tự Do

Tô Mát vẫn thấy lo lo

Chất cộng sản dễ bóp cò vào nhau.


Nà Lừa lán ở rừng sâu

Lội qua con suối ngập đầu gối sang

Nguyên tắc bí mật an toàn

Đưa cơm như thể cho chàng chăn trâu

Trung đội gác ở hai đầu

Mò cua bắt cá nước ngầu đục trong

Nửa đêm cụ Ké nóng lòng

Lên cơn sốt rét đôi tròng mắt to

Tình hình đất nước cam go

Nhật tàn Tưởng sẽ hét hò kéo sang


Nam Triều theo cách bảo hoàng

Để dân chết đói bỏ làng ra đi

Non sông lại kiếp nô tỳ

Bánh bao Tầu Tưởng chấm xì dầu cay

Còn đâu mái tóc óng dầy

Còn đâu những bát phở 🍜đầy sớm hôm

Gối mây chăn mỏng Cụ ôm

Cột tre liếp nứa gió nồm rét run

Anh Văn kịp đến giúp giùm

Cụ rằng thời vận phá cùm xích gông

Hai ngàn cây số Trường Sơn

Dẫu phải phóng hỏa làm luôn lúc này

Phải giành độc lập từ đây

Chính danh dân chủ mới thay đổi đời

Văn tướng kêu ối giời ơi !

Loan cho các đệ gần nơi lán Lừa

Thuốc của thầy cúng, thầy mo

Mũi tiêm của Mỹ Cụ bò dậy nhanh

Một khi nghiệp đế chưa thành

Ma nào dám bắt hãm phanh lúc này


Tân Trào quan tướng đủ đầy

Trèo lên tảng đá một ngày họp xong

Tất cả đồng hướng đồng lòng

Nghĩa quân đã xuống tận Phong Châu rồi

Thái Nguyên, Bờ Đậu có người

Giao liên bị bắn bụng lòi ra thư

Chả biết câu chuyện thực hư

Út Vân gửi đến tâm tư mong chờ

Giữa lúc cả nước đỏ cờ

Tình riêng có thể bất ngờ tàn canh

Thư này bị hủy quá nhanh

Út Vân buồn tủi trở thành ni cô

Kỷ Dậu Bà vẫn nghi ngờ

Anh Ba còn sống Út chờ trăm năm♥


Anh Văn kê thực đơn ăn

Ba ba đầu suối cá tầm cửa hang

Thảo dược toa thuốc thầy lang

Đầu bếp ngoại hạng tiến dâng Cha già

Từ đó Cụ ít dùng gà

Toàn chén đặc sản vườn nhà thả hoang

Rau rừng ở xứ Tuyên Quang

Mọc trên núi đá rau hoàng đế xưa

Anh em gần lán Nà Lừa

Săn thú hái nấm măng chua ở rừng

Gốc đa bày cỗ tưng bừng

Mái đình Hồng Thái khói lừng lên cao

Tô Mát da dẻ hồng hào

Wis ky đã hết rượu nào cũng ham

Báo cáo gửi về Vân Nam

Khen Việt Minh biết việc làm độc chiêu

Trung đội Con Nai sớm chiều

Tắm tiên bên suối rất yêu♥ đất này

Đồng minh gửi hàng sang ngay

Lựu đạn súng cối mũ giày thuốc men

Tưởng cung cấp lựu đạn đen

Cán dài chém gió bay lên nổ đùng

Nghĩa quân hừng hực oai hùng

Ở trần ôm cọc vượt bùng nhùng gai

Thời loạn thử thách chí trai

Lập công báo quốc chọn bài báo ân

Tầng tầng, lớp lớp nhân dân

Cọc tre vót nhọn dao gằn đá hoa

Trống chiêng tín hiệu loan xa

Vùng lên đánh phá cửa nhà quan Tây

Phìa tạo bị xích hàng dây

Van xin từ bỏ ruộng cầy cho dân

Tự do độc lập đến gần

Khắc làm khắc chén ba quân sướng nhoè

Cần lao từ đó hay khoe

Việt Minh giải phóng chẳng đe nạt gì

Tiến quân về phía hạ du

Nhật hàng, Pháp chạy chiến thù nhẹ tâng

Thành lập đội Giải phóng quân

Đánh đồn phá bốt tiến gần Thủ đô


Hà Nội thời khắc xô bồ

Pháp Nhật, đảng phái phát rồ phát điên

Nhà giầu đúc túi giấu tiền

Cần lao chết đói hốt lên xe bò

Bánh sắt khô khốc bờ Hồ

Chợ thành âm phủ nấm mồ cần lao

Đảng phái sa lông dâng trào

Chính phủ thân Nhật mũ cao áo dài

Hóng chờ nho chín để xài

Thực là một lũ bất tài sợ Tây

Hà Nội không vội ♥là đây

Lòng dân ấp ủ một ngày sao rơi

Mạch nguồn phải biết cách khơi

Vàng trong dân phải có người làm tin

Biết bao cô gái ngoan xinh

Lỡ thời thất tiết phí nghìn vàng danh

Cần lao đồn thổi rất nhanh

Đế vương xa giá rừng xanh sắp về

Tiếng súng ở mấy miền quê

Sao vàng cờ đỏ lời thề quyết tâm

Đêm đêm bước chân dầm dầm

Hát diệt phát xít cứu dân cứu nhà

Giang hồ trộm cướp nghe ra

Chúng thôi cướp bóc chuyển qua quân mình

Chùa chiền am miếu ngôi đình

Cứu quốc quân ở dân tình dâng xôi

Việt minh cài cắm tuyệt vời

Thợ hoạn, kẻ sĩ là người của ta

Lái buôn địa chủ xông ra

Chống Tây cứu đói các nhà con dân


Cộng sản khi đó ẩn danh

Các cấp uỷ đảng rất rành thời cơ

Nguyễn Khang vào thành may cờ

Họp chi bộ Đảng bên bờ ao thôn

Chùa Hà nơi cầu vọng con

Cầu tình tình được, cô hồn rất thiêng

Cốm Làng Dịch Vọng giã nghiêng

Hạt dẹt tròn dẻo đem chiên thơm lừng

Không chờ quân lệnh từ rừng

Thời cơ đã đến ngập ngừng là thua

Tướng ở tiền duyên từ xưa

Tự quyết không phải hỏi vua làm gì


Sáng ngày Mười chín tháng Thu

Cần lao vác trống rúc tù và công

Sao vàng cờ đỏ công nông

Thay cờ ba sọc ở trong các Toà

Sắt tây cuộn thành chiếc loa

Bảo an đoàn trại bị ba phát đòm

Một số nông dân bán rơm

Tiện thể phóng hoả khói thơm ngút trời

Quân Nhật thua trận xả hơi

Kệ dân đất Việt tranh đòi tự do

Làng quê tỉnh lỵ reo hò

Trống rền, gậy đập, đốt lò khói xanh

Việt Minh thực chất tranh giành

Chính quyền bị cướp cũng đành chịu thôi

Cách mạng đâu phải long trời

Kiểu bắn pháo hạm của người Nga Xô

Trọng Kim, Bảo Đại trơ trơ

Mắt nhìn có vẻ nghi ngờ Việt Minh

Tưởng Tây Sơn, Nguyễn Quang Bình

Đánh ra miền Bắc thình lình về Nam

Việt Minh sơ lược võ trang

Dùng súng bằng gỗ, đập càng kéo xe

Lòng người có rãnh có khe

Giải tỏa áp bức nhất tề đứng lên


Sĩ phu đầu cầu Tràng Tiền

Mũ ni quắp má ưu phiền Nam ai

Điệu hò xứ Huế ngắn dài

Sông Hương nước chảy tượng đài trơ vơ

Chuông chùa Thiên Mụ ngẩn ngơ

Đò về Vĩ Dạ thuyền chờ Văn Lâu

Thái Hoà hương đỉnh u sầu

Hoàng thành rêu phủ hào sâu đặc bèo

Gió thu thổi hàng thông reo

Quan Nguyễn Công Trứ không theo kiếp người

Dự rằng chuyên chế muôn đời

Súng ầm Cửa Thuận cát bồi Lăng Cô

Tình yêu đất nước vô tư

Quan quân nhà Nguyễn không từ gian nan

Thế giới đang thời lật trang

Cộng hoà tư sản đi sang đất người

Khoẻ cưỡi đầu yếu muôn đời

Dân ngu dễ bảo dân chơi dễ lừa

Chế độ thuộc địa nhiều mùa

Bên nền quân chủ dân thua xích xiềng


Núi cao bởi ánh chiều nghiêng

Leo lên lại thấy núi miền kia hơn

Lưỡi trai lệch, miệng thờn bơn

Chó mèo ngắm ngía chê lông mày dầy

Bằng nhau là món chả cầy

Kiếp người đã bị trời đầy từ lâu

Khố rợ phải nấm nát nhầu

Đổi thay cách mạng nhiều mầu mây trôi

Ỳ trệ chắc chắn bị toi

Hùm thiêng sa hố theo voi sập hầm


Thượng Chi treo ấn âm thầm

Uống trà rũ áo không cầm cờ ai

Hoa Đường biệt thự quả sai

Bầu đoàn no đủ tiêu xài hàng rong

Quan trường đến lúc nản lòng

Buông trôi thời thế bằng không bất kỳ

Người nhà Hữu Bài giải đi

Bắn luôn hai vị quan vì hiềm xưa

Sinh ra ân oán thâm thù

Nhà Ngô chấp chính bắt tù Việt Minh

Cần lao tính cách thất tình

Kiểu đa nhân cách từ bình minh lên

Giữa hai làn đạn đảo điên

Tư thù xen kẽ lê xiên xích cùm

Võ quan họ Phan tên Hàm

Biết người họ Nguyễn Hữu làm quân ta

Con cháu lặn lội khóc òa

Cụ rằng : “Lịch sử xét tra sau này

Các cháu hăng hái mê say

Đi theo cách mạng có ngày thành danh”


Phó Tướng Trần Huy vào Thành

Tiếp nhận Bảo Đại đầu xanh cựu hoàng

Mỗi bên nổ ba tiến đoàng

Cờ vua lên xuống, bẽ bàng ấn gươm

Cờ Ta sao béo gườm gườm

Kinh Thành Huế vẫn gió buồn nhớ nhung


Chu Xương vệ sĩ yêng hùng

Cụ mời ngồi xuống cho dùng thuốc thơm

Cụ rằng : Ngựa đã tung bờm

Đạn ra nòng súng đỏ ngòm nước Nam !

Ý Cụ bắt Triều đình giam

Kiểu Ăng lê phớt đã làm từ lâu

Cựu hoàng bữa cuối u sầu

Sau làm cố vấn ghế đầu Ủy ban

Hoàng cung dịch chuyển vào Nam

Chức danh Quốc trưởng quai hàm rất oai

Dẫu lìa ngó ý còn dai

Tơ hồng vương vấn tuyền đài vấn vương

“Một cơn gió bụi” đau thương

Trọng Kim- cựu thủ cùng đường Cao nguyên


Sài Gòn xứ sở kim tiền

Chúng dân no đủ mặt hiền như mơ

Đảng phái nhận thấy thời cơ

Rắp tâm dựng một ngọn cờ ly khai

Nam Kỳ quốc lắm anh tài

Dân chủ tư sản chơi bài ngửa ra

Anh chị lọc lõi ranh ma

Bảo kê chính khách quen sa lông ngồi

Xứ uỷ Nam kỳ phục hồi

Khởi binh lớp lá từ nơi bưng biền

Từ xã huyện tỉnh tiến lên

Tầm vông nhọn hoắt trống rền phủ Tây

Vũng Liêm nổi tiếng một tay

Non hai mươi tuổi bắp cày võ trang

Biệt danh chú Sáu nhân dân

Bí thư huyện uỷ sau lần lần thăng


Văn Giàu cao học Phờ răng

Phương Đông tu luyện ngang bằng Dân Tiên

Ông về Nam bộ cướp quyền

Xuống tay quá mức chẳng phiền toái ai

Tuyên ngôn công trạng một bài

Gốc địa chủ muốn ly khai song kỳ

Trát đòi Giàu phải ra đi

Sống đời học thuật số như Liệu Trần


Giao thời nhiều kẻ tranh giành

Hỗn mang bát nhào trở thành phân ly

Loài người gốc ở Đông Phi

Hành hương các hướng mầu bì trắng đen

Bọn người da trắng lớn lên

Bọn da màu nhám vững bền số đông,...


Út về thăm bến nhà Rồng

Nghe còi tàu hú nóng lòng nhớ Ba

Biết rằng người ấy ở xa

Đế vương còn nhớ ngày ta hẹn hò?


Thông đường nhưng vẫn phải dò

Vào tù ra khám hỏa lò nhiều nơi

Đường về có lúc Cụ ngồi

Xe con dặt dẹo như trời hành nhau

Nằm cáng quân đi trước sau

Đến làng Gạ Cụ nhức đầu dừng chân

Sư bên nước Phạn lại gần

Đổi trao bùa ngải mệnh quân vương rồi

Đào Nhật Tân chúm chím cười

Năm dân chết đói lạnh trời muộn hoa

Phố phường Hà Nội nhạt nhòa

Mùa Thu se lạnh mưa sa ngập đường

Các đệ dọn dẹp tiền phương

Chọn số 48 phố phường đông dân

Nhà ông tư sản Nam phần

Bán buôn tơ lụa toàn tằm ăn dâu

Tầng hai gió thoảng rộng sâu

Phòng làm việc có hai đầu cửa thông

Bảo vệ mật canh rất đông

Giả làm bán báo, hàn đồng thiếc nhôm


Sáng ra tay xách nách ôm

Bó hoa tươi đẹp rượu thơm trà hồng

Cô chủ mắt hạt nhãn lồng

Được trên căn dặn chăm ông Thượng nầy

Một hôm vua nắm bàn tay

Khen cô phúc lớn hậu dầy trăm năm

Giai cấp tư sản rất thâm

Ngôi nhà cho mượn chỉ tầm ngàn cây

Cháu con đòi suốt đêm ngày

Đòi đường tên bố rộng dầy dài xa


Những ngày Cụ duyệt quốc ca

Thảo Tuyên độc lập khách ra khách vào

Tuyên ngôn Mỹ Pháp dạt dào

Dân sinh, dân chủ, dân trao lợi quyền

Pát ty,  Mạnh Tường được quyền

Đọc dịch hiệu đính ra tuyền chữ Tây

Chuyện chỉ thế nhưng đến nay

Dệt thêu muôn chuyện vừa hay vừa buồn

Xung quanh việc thảo Tuyên ngôn

Rõ ràng Cụ muốn con đường Tự do

Theo Đồng Minh được ấm no

Sau theo Cộng sản chẳng so đo gì

Chính cương sách lược bước đi

Đánh trúc phong kiến nạp quy thổ điền

Phát canh thứ tự ưu tiên

Như ngàn năm trước thánh hiền dạy vua

Ngoại xâm không đánh chúng thua

Phải đàm để chúng chọn mùa lui quân

Tất cả phải từ nhân dân

Chọn đường kách mệnh áo quần phải đo

Đói ăn bụng lép thân cò

Cần lao bãi bỏ những trò nhố nhăng

No cơm ấm cật bụng căng

Cần lao vui vẻ gọi thằng là ông

Củng cố liên minh công nông

Chiếc xe hai bánh cõng đồng bào ta

Chỉ huy nhất thiết phải là

Tận trung với nước thương nhà yêu dân


          Phần III:  ĐẾ VƯƠNG

Chính phủ lâm thời nhiều chân

Cho các Đảng phái sống gần sa lông

Các đệ chinh chiến lập công

Tạm lùi một bước đẹp lòng quốc dân

Anh em Tường Tam, Tường Lân

Nhậm chức Bộ trưởng muôn phần sướng vui

Chu Bá không quá ngậm ngùi

Thượng thư một suất thoái lui sau này

Quan chức thay đổi theo ngày

Thượng sách hàng tẩu nhiều tay giã từ


Chọn ngày tháng Chín mùa Thu

Ba Đình nắng đẹp mây mù sớm tan

Anh em tự vệ, công an

Ra đời trận Bảo an đoàn bị thua

Rất nhiều cộm cán a dua

Thích chế độ mới chúng mua súng đòm

Chắc chân được nhiều kẻ ôm

Đổi chiều ngọn gió cá tôm dạt bờ

Ngày xưa Tào Tháo nghi ngờ

Anh Văn thử thách bắt chờ ít lâu

Nhiều tay anh chị cực ngầu

Theo quân ông Cụ cái đầu đổi thay

Rượu ngon dụ tình mê say

Việt Minh hấp dẫn những tay giang hồ

Thói hư tật xấu dần mờ

Đầu quân ông Cụ chúng thờ thánh nhân

Những khi được ông Cụ gần

Những lời có cánh thêm phần tự tin

Ngày đầu sức mạnh Việt Minh

Công an xung kích dập dình khắp nơi


Ba Đình nắng đẹp xanh trời

Bục cao Chính phủ lâm thời đứng tuyên

Lời khai quốc được lan truyền

Công lao dân Việt đặt lên hàng đầu

Phái bộ Mỹ trang phục Âu

Hoa quân, đảng phái áo Tầu, quần Ta

Nổi lên bài Tiến quân ca

Quốc thiều xung trận tiến ra sa trường


Nữ sinh áo trắng Trưng Vương

Có con Rồng cái nõn nường vung tay

Đệ nhất phu nhân sau này

Bắt bớ cộng sản dao phay xén đầu

Kẻ hóng Pháp, đứa chờ Tầu

Những mong quyền lợi đậm mầu mỡ ngon

Chánh quyền như vợ chồng son

Niềm vui hạnh phúc vẫn còn dư âm

Học thuật kinh nghiệm nâng tầm

Thực hành những việc dân cần có ngay

Giặc đói bị đánh thẳng tay

Bình dân học vụ giết bầy giặc ngu

Ngoại xâm, nội phản thâm thù

Kẻ nào manh động không tù mà tiêu

Tuần lễ vàng rất đáng yêu

Trịnh Văn tư sản hiến liều của dư

Ngàn cây vàng lấy tờ thư

Vua khen cô chú bậc tu tỉnh Đời

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2025

Chiếm Bắc Bộ phủ ngày 19.8.1945



Quần chúng dũng cảm ko phải là bần lao mà là con nhà giầu ngông cuồng, thuộc đường phố, dinh thự. Sử đã tìm ra ô Nghiêm người dũng cảm đầu tiên trèo qua rào sắt nhọn hoắt, quần chúng khác vượt vào.

Cải thổ, cải tạo tư sản nhà ông bị quy thành phần...nhưng năm tháng công bằng ông Ngh thành người có công, hưởng lộc.

CM luôn công bằng.

Một nhân chứng là cụ Túc (liên lạc viên Tiểu đội Nguyễn Ngọc Nai năm 1947) kể hôm đó ông vào Bắc Bộ Phủ, rất đông người như tham quan, ko phá phách, ông nhấc ông nghe cho vào tai,...rồi lấy tờ giấy trắng.

***

Nhóm kéo cờ sao vàng ở Ngọ Môn cáo chung chế độ phong kiến là thanh niên, học sinh con nhà quan yêu nước. Đó là Cao Pha, Phan Hàm sau là tướng QĐND, Hùm Xám đường 4 ĐVăn Việt cũng tham gia.

Anh Lành nhìn thấy sướng, dĩ nhiên anh có công lãnh đạo khởi nghĩa Huế, đón Đoàn Tr.H.Liệu PCtịch UBKN vào tước kiếm Bảo Đại. Huế kiên cường anh dũng trị nha lại triều Nguyễn. Hoàng tộc xẹp như gián, đòm luôn cụ Phạm Q, Ngô Đ.Kh...

CM T8 đòm ít nhưng khí thế hơn CM TS Pháp lật đổ vương triều Louis.

Lịch sử ghi nhận lực lượng quần chúng và VM vũ trang tại chỗ (sau là CA Nh dân) giành chính quyền trước khi quân GP của tướng Giáp từ chiến khu tràn về.

Ông bác mình từng trói gô tri huyện hôm 9.3.45 khi Pháp Nhật đòm nhau, bị Nhật trói gô lại nhưng tri huyện xin tha vì trẻ con mới lớn. CMT8 ông mặc nhiên là trưởng CA huyện trấn trị bọn trộm cướp, buôn lậu giấy bạc, thuốc phiện...

Công lênh đến đâu ghi sổ đến đó.


Thứ Hai, 21 tháng 4, 2025

Đường đến Dinh Độc Lập


Chuyện anh Ba No2
--------
Quê anh ở Triệu Phong
Gió nhiều hơn nơi khác
Thân sinh thợ mộc mạc
Tương truyền bố Lê Hoan?
Lúc trẻ không trò ngoan
Ngỗ ngược hơn chúng bạn
Sanh ra thời tao loạn
Cụ Đề Thám đòm thua
Yên Báy bị te tua
Anh Ba thường day dứt
Nếu chỉ làm hàng mộc
Anh giàu có nhứt vùng
Ký hoả xa miền Trung
Anh vào ra Nam Bắc
Phân tích thế ta giặc
Theo hướng Cụ xuôi Nam
Điện Biên thắng lừng vang
Cụ và đệ thỏa mãn
Ký phân chia Nam Bắc
Vận số đến anh rồi !
Đấm bàn : "Ối trời ơi !
Phải hai chục năm nữa
Chiến giết nhau từng bữa
Mới phân định thắng thua"
Nghị trường là chuyện đùa
Đối phương lê máy chém
Xén thuê cả rau muống
Anh nằm hầm nhai cơm
Thảo Nghị quyết bắn đòm
Số 15 gậy gộc
Giao liên chuyển hoả tốc
Ba No 1 suy tư,...
Không thể thắng giặc thù
Bằng trò Tổng tuyển cử
Bình chân là giặc dữ
Lấp sông, nhảy dù đòm
Hoả tốc vào miền Nam
Mời No 2 ra Bắc
Bầu anh lên bậc nhất
Thu một mối giang san
Tiếp chuyện anh Ba No2
Đi suốt cuộc chiến tranh
Anh nhận ra lợi thế
Địch quân rất mạnh mẽ
Nhưng sợ chết vô biên
Thuận nhẽ anh lập liền
Chính phủ quân Giải phóng
Cờ Xanh Đỏ sao nóng
Để miền Nam vùng lên
Chia quan đi mượn xiền
Cho, nợ anh ký tuốt
Hàng nóng vào tuồn tuột
Chiến búa sua đôi miền
Dù Ta thua triền miên
Nhưng địch quân sợ hãi
Vạn Tường Ta bóp d.ái **
Lính Mỹ sống mà kinh
Ngày đỉnh điểm chiến chinh
Mỹ mất 200 mạng
Dân Mỹ cuồng bạo loạn
Chết uổng, ché.o thích đòm
Chư hầu rất cuồng điên
Chết nhiều mà xèng ít
Lính Nam Hàn bị thịt
Thấy tiền ch.e.ó bõ bèn
Trận cuối Anh xin xèng
Bê Liên Xô ngờ vực
Anh rằng viện trợ tốt
Việt chỉ mất triệu người
Viện nhỏ giọt Việt toi
10 triệu tôi cũng chiến
Tóc gáy Bê giơ nép
Dựng ngược lên hồi lâu...
75 làm một chầu
Xong phim anh rít thuốc
Điếu Đồ Sơn tuy mốc
Anh bỏ thuốc từ lâu *
* LK Thành xác nhận trưa 30.4 tại nr 6A HD.
** Đã gặp PCT h Núi Thành là nhân chứng trận chiến.
(Khi đã thành huyền thoại thì thôi bắt bẻ chi tiết)

Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2024

Thăng Long Thành Hoài Vọng


1946
"Đoàn vệ quốc quân một lòng ra đi"
Nam tiến oai hùng súng đạn sân ga
Mẹ ới con đồng quà tấm bánh
Vợ gọi chồng lạc giọng: "mình ơi"
1945-1954
------------
"Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Lãng quên đời "Quang Dũng" núi rừng xa
Bước hành quân, lính hát tiến quân ca
Tan khói trận chợt nhớ về phố nhỏ

10-10-1954
------------
Năm cửa ô rợp cờ hoa rực rỡ
Nước mắt mừng, xót mặn đón đoàn quân
Em xinh tươi chờ đợi một tấm thân
Mẹ về nhà ôm vòng tay trống rỗng

1965-1972
------------
Lịch sử đặt Thăng Long thành chiến trận
Mặt đất bầu trời khói lửa hương hoa
Lớp gái trai nô nức vẫy tay đi
Mũ sao vuông chói loà bên mâm pháo

1947-1965-1972-
------------
Nhị Hà ơi! ba lần người diện áo
Gánh Kinh Thành chạy loạn lạc gần xa
Tấm áo dài mẹ mặc ngày tiễn ba
Ngày tiễn con, ngày người đưa tiễn mẹ

** 1000 năm
------------
Thăng Long ơi! lớp lớp người tuổi trẻ
Đã bao lần mơ mộng gửi Hồ Tây
Góc phố hoa thơm, kỷ niệm vương đây
Tình yêu em lắng sâu vào tâm khảm
Có tâm linh thầm thì về dĩ vãng
Có niềm tin sáng tỏ trước sau
Có tình yêu khoả lấp thương đau
Có Thăng Long muôn đời vang bóng
Hoàn Kiếm long lanh, Hồ Tây dậy sóng
Nhịp ồn ào dồn sâu lắng ngàn năm
Người con gái Hà Nội- Đặng Thuỳ Trâm
Sống chết đẹp cho nước nhà thống nhất
Chàng binh nhì "chuyện đời" không quên lãng"
Dòng dòng tình thương nhớ gửi hậu phương
Vũ Xuân Thiều kiêu hãnh tấm gương
Ngôi sao sáng đốt pháo đài giặc Mỹ
Các chị, các anh sống cuộc đời chiến sỹ
Thăng Long thành hoài vọng bài ca