Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014

Phúc tại mẫu



Thuộc diện cốt cán, ông nội tôi là nông dân liệt sỹ chống Pháp (CTV trung đội du kích), bố tôi qua thời chiến, được phong chức, được giao chỉ đạo CCRĐ ở huyện LN-SĐ, tỉnh BG vùng sâu xa, thưa dân nhưng nhiều thổ phỉ.



Trước khi đi, bố tôi về nhà, bà nội tôi bảo “mày làm gì cũng phải để đức cho con cháu”. Bà tôi biết rõ phong trào đấu tố sục sôi “long trời lở đất” nhiều hậu quả. Bà tôi không biết chữ, không đi chùa.

Bố tôi sau này kể: Trên giao 5-10% địa chủ, quốc dân đảng, thổ phỉ, và cả trộm cướp phải đấu, bắt tù. Dựa vào cơ sở, lại xa chỉ đạo ép của trên (do họ tập trung ở vùng xuôi), bố tôi hỏi kỹ anh em trong đội, gặp đối tượng,… và thống nhất ra báo cáo các thành phần có tên với kết luận:

1.Số hộ có nhiều đất, trâu bò, nhà khung gỗ mái tranh, dụng cụ canh tác là dân nghèo dưới xuôi bồng bế nhau đi khai hoang; đất, cây rừng còn đầy. Trâu chăn thả cả đàn trong rừng, nuôi mấy đơn vị tham gia chiến đấu ở đệ tứ chiến khu của tướng Nguyễn Bình. Không phải địa chủ, không có cường hào, dân thuê mượn trâu bò dụng cụ, đổi công theo thỏa thuận.

2.Số người tụ họp là nhu cầu sinh hoạt toàn đánh cờ bài, nhậu nhẹt, ma chay, cưới xin, lễ hội, buôn chuyến lãi khao nhau. Không phải quốc dân đảng. Số thoát ly địa phương chưa xác định là theo Việt Minh hay quốc dân đảng, thổ phỉ hay làm ăn xa, vì họ không về.

3. Người tụ bạ trong rừng núi hang hốc, đó là những nhóm đi làm nương, có “trộm cắp” của chính nhà mình con gà, vịt lên nương làm thịt. Không phải quốc dân đảng, không phải thổ phỉ, trộm cướp giết người.

Tổng kết 0%.

Bố tôi về báo cáo thì bị trên phê bình không hoàn thành nhiệm vụ, cả huyện mà không tìm ra thành phần,… trong khi đó các nơi đạt tỷ lệ cao. Một vị tên Đ đi đấu tố vu oan được biểu dương, trên thăng ngay chức Phó TB TCTU. Vị này đấu không chừa ai, có đối tượng phải nhảy cầu tự vẫn, cấp trên của Đ đang học ở TQ bị đưa về tống Hỏa Lò, ông PMN sau làm Phó VPTTg. Ông phải đập đầu, cấu tay lấy máu viết tường nhà tù để trên quan tâm minh oan.

Tôi hỏi bố nghe bà hay nghe ai? Bố tôi bảo, nghe bà và nghe dân sở tại, bố không sợ bị trên phạt (mặc dù họ bắt kiểm điểm thì bố giải trình như báo cáo đã gửi, và yêu cầu đoàn khác lên kiểm tra). Sau này bố tôi về SĐ, LN, nhiều người dân, cán bộ cốt cán rất thích vì họ thoát chết.

Tại quê tôi, dân chúng còn lưu truyền vụ đấu mẹ đại địa chủ, con là địa chủ đi bộ đội bị đấu nhẹ hơn. Khi các đội về hỏi bố tôi về các con cháu địa chủ đang tại ngũ, bố tôi bảo, lúc bé họ bình thường, lớn lên không đánh đập ai, CMT8 theo ngay VM chiến đấu dũng cảm. Nhưng bà cụ 80 mươi thì quá khổ, chiều đông giá buốt bị phạt đi đào mương, uất ức, bà đã lầm lũi đi trong chiều sương trẫm mình xuống dòng sông Thương. Một thiếu tá con bà đã đi lùi chắp tay lạy cổng làng thề không bao giờ trở lại. Thiếu tá phải chuyển ngành vì trên sợ lâu dài sẽ theo địch trả thù.

Bà nội tôi có người anh trai cùng cha khác mẹ là đại địa chủ, nhưng vì có con đi bộ đội Việt Minh mà chỉ bị đấu, tù đến chết, bị tước đoạt sạch, đến mức hàng cháu ngày nay vẫn mang mối hận thù và một người nói với bố tôi “cả làng chỉ có bà trẻ (tức bà nội tôi ) thương anh em chúng cháu”. Số phận suýt giáng xuống bà nội tôi-vợ liệt sỹ nhưng là em gái đại địa chủ.

Con dâu là cốt cán định đồng thuận với Đội đưa mẹ chồng ra đấu, bà tôi bảo trước “tao 19 tuổi lấy chồng nhà nghèo, được ăn gì của nhà địa chủ”.Thực ra thì bố tôi bảo có được ăn mấy mớ lạc đầu mùa, lũ lụt thì bác địa chủ đến hỏi có gì phải chạy lụt. Có gì đâu…

Nhưng ông bà trẻ bên ngoại nhà tôi nói đúng sự thật, không đấu tố, cảm ơn địa chủ bị Đội mắng và cho đất hoang. Số trung thực không nhiều.

Di họa cuộc CCRĐ còn rất lớn, mối thâm thù âm ỉ đâu đây, người bị oan sai vẫn không được lời xin lỗi, bồi hoàn; họ trả oán bằng cách không hợp tác giúp đỡ, không cho trẻ cưới nhau,…không thăm hỏi nhau vì trong họ hàng đã đấu tố nhau man rợ, nắm tóc, nắm râu nhau, đày nhau đến chết. Và đáng sợ nhất là số đã vượt sang bên kia giới tuyến chiến đấu trả thù, thậm chí đến năm 1975, có viên sĩ quan VNCH vẫn còn giữ đoạn dây thừng treo cổ bố.

Con người từ hoang dã đến văn minh là chặng dài dài của lịch sử, nhưng đến với văn hóa nhẽ còn rất xa.

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

Mùa thu



 
Lúa chín vàng trong thung
Núi không lùn được nữa
Trời xanh như muôn thuở
Thu trở về em ơi

Anh muốn làm mây trôi
Khắp khung trời cao rộng
Ru em êm giấc mộng
Thiên thần thắm nụ hôn

Trời thu xanh cao hơn
Trăng vàng lên rực rỡ
Trăng tròn như muốn vỡ
Rắc lộc vàng muôn nơi

Mùa thu về em ơi
Hoa cúc vàng hương bay
Men tình lên cơn  say
Tiếng ca chiều chim hót
Nắng rớt vàng mật ngọt
Yêu em yêu mùa thu

Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

"Lá đơn đặc biệt" 2 ngày sau khi TQ xâm lược VN năm 1979

Trong câu chuyện với chúng tôi, cựu binh trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng (hiện là giảng viên trường ĐH Phương Đông), tác giả bài thơ Bình độ 400 nổi tiếng còn cung cấp một lá đơn xin chiến đấu được chép lại mà ông cất giữ như một kỷ vật hết sức thiêng liêng.
Theo lời ông Hùng kể, chập tối ngày 22 tháng 2 năm 1979, những người lính Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn An Lão, Sư đoàn Sao Vàng, mặt trận Lạng Sơn, đang chiến đấu lấy lại đồi Thâm Mô (gần thị xã Đồng Đăng) thì "tóm" được một thanh niên nhỏ nhắn, da đen, nhanh nhẹn tên Thành, mang theo lá đơn xin chiến đấu.

"Anh Thành cho biết đã bắt tàu từ Hà Nội lên và đưa cho chỉ huy đơn vị một lá đơn xin cầm súng chiến đấu "Kính gửi các thủ trưởng đơn vị quân đội nhân dân Việt Nam". Trong đơn, anh Thành bày tỏ không thể ngồi yên học hành khi đồng bào và đồng chí của anh đang đổ máu trên tuyến đầu Tổ quốc bảo vệ từng tấc đất thân yêu. Và anh khẩn thiết đề nghị các thủ trưởng hãy cho anh sống, chiến đấu tại nơi đây... Sau khi xem xét đơn các thủ trưởng đã đồng ý với lá đơn đề nghị của anh.
Mọi chuyện sẽ chẳng có gì để nói nếu như không có sự việc chỉ sau vài tiếng đồng hồ nộp đơn từ đêm hôm đó đến sáng hôm sau, anh Thành đã không còn nữa. Những người đồng đội đã xác nhận, anh ấy đã chiến đấu dũng cảm và anh dũng hy sinh tại mặt trận...", ông Hùng bùi ngùi kể lại

Lá đơn xin chiến đấu chỉ một đêm của liệt sỹ Thành cách đây 35 năm
Lá đơn xin chiến đấu chỉ một đêm của liệt sỹ Thành cách đây 35 năm

Năm 1980 nhận hồ sơ, khi lập danh sách đề nghị tiểu đoàn chuyển trung đoàn công nhận liệt sỹ Phạm Quang Thành, đơn vị đã xác định được quê quán của anh ở xóm 2, thôn Mỹ Bổng, xã Việt Hùng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình..

Trong di vật còn lại được gửi về lên cấp trên bao gồm một số ảnh tập thể sinh viên, thư của người bạn gái, bản chính đơn xin chiến đấu...


Cũng theo ông Hùng cho biết, liệt sỹ Thành từng tham gia chiến đấu và là thương binh chống Mỹ nhưng vẫn quyết tâm, tự nguyện xung phong lên chiến đấu, anh dũng ngã xuống ở mặt trận biên giới phía Bắc.

Ông Hùng tâm sự: "Anh Thành nộp đơn xong rồi cầm súng chiến đấu luôn cùng đơn vị và hy sinh ngay trong đêm ác liệt đó nên nhiều anh em vẫn còn chưa biết rõ mặt mà chỉ biết qua những tấm ảnh trong di vật còn lại.

Hơn 35 năm rồi nhưng chúng tôi vẫn không thể nào quên về anh, một trường hợp rất đặc biệt, đi hàng trăm km lên nộp đơn, chiến đấu và hy sinh chỉ vài giờ sau đó. Tuy nhiên, chỉ có điều canh cánh đến giờ là không biết biết gia đình đã tìm và đưa anh về với quê hương chưa. Thực sự, chiến tranh quá ác liệt và nếu không có nó, có lẽ, anh Thành đã có thể sống và cống hiến cho đất nước nhiều hơn..."


                                Nội dung lá đơn của Phạm Quang Thành:
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập -Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN XIN CHIẾN ĐẤU
Kính gửi các thủ trưởng trong đơn vị quân đội nhân dân Việt Nam
Tên tôi là: Phạm Quang Thành, là học sinh năm thứ nhất khoa toán trường đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi xin trình bày một việc sau đây:
Sau khi nghe sự kiện 4 giờ sáng ngày 17-2-1979 bọn phản động Trung quốc đã xâm phạm lãnh thổ nước ta, lòng tôi như lửa đốt. Tôi không thể ngồi yên học hành khi đồng bào và đồng chí của tôi đang đổ máu trên tuyến đầu Tổ quốc bảo vệ từng tấc đất thân yêu. Tôi đã làm đơn xin đi chiến đấu, nhưng vì tôi là một người lính đã trở về trường học tập nên việc xin nhập ngũ là rất khó. Chính vì vậy tôi đã đi từ Hà Nội lên đây và sẽ xin vào công tác ở bất cứ đơn vị cầm súng đánh giặc. Tôi biết đó là một khuyết điểm của mình, nhưng đánh xong giặc tôi sẽ xin chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân với khuyết điểm của mình. Là một đoàn viên thanh niên cộng sản mang tên Bác Hồ vĩ đại. Tôi càng tự hào bao nhiêu thì tôi càng hiểu trách nhiệm của mình bấy nhiêu. Trong khi tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đang vang vọng trong lòng. Vậy, tôi khẩn thiết đề nghị các thủ trưởng hãy cho tôi sống và chiến đấu tại nơi đây. Tôi xin hứa sẽ hoàn thành bất kỳ nhiệm vụ gì cấp trên giao phó. Được như vậy tôi chân thành cảm ơn

Hà Nội ngày 19/2/1979
Người làm đơn
(ký tên)
Phạm Quang Thành
 ----------------

Bổ sung bài viết
Mặt sau lá đơn
“Hy sinh anh dũng ngày 22-2-1979 tại đồi Thâm Mô, phía nam Đồng Đăng”*
  * Là chữ của anh Nguyễn Đình Loan, chính trị viên Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn An Lão, Sư đoàn Sao Vàng, người bắt tướng Nguyễn Vĩnh Nghi ở Phan Rang năm 1975). Quê anh Loan ở Lục Nam, Bắc Giang.
 --------------
Người chép lại đơn lần 2
Ngày 26.9.1981
Ký tên**
Đơn vị HT 1a. 6220 L.Sơn.

Chiến tranh biên giới 1979:Ký ức đau đớn về những quan tài rỏ máu


Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014

Cựu binh biên giới phía Bắc kể về trận Bình độ 400

Nguyễn Mạnh Hùng là cựu binh tham gia trận Bình độ 400 ác liệt ở Lạng Sơn năm 1981. Hơn thế, ông còn là tác giả của bài thơ rất hay viết về trận đánh này cũng như hình ảnh người lính trong chiến tranh biên giới phía Bắc. 

Một thời chinh chiến giữ biên cương
Ông Nguyễn Mạnh Hùng cho biết ông nhập ngũ tháng 8/1978 lúc đang là sinh viên trường đại học Kinh tế Quốc dân. Khoảng 8 tháng sau, ngày 4/3/1979 ông được điều về đơn vị thông tin thuộc trung đoàn 2, sư đoàn 3 Sao Vàng trấn thủ biên giới phía Bắc

Ngày ông lên là lúc Trung Quốc cũng bắt đầu rút nhưng ông nhấn mạnh: “Mọi người thường tưởng quân Trung Quốc rút ồ ạt về nước nhưng không phải. Nó rút từ từ và vừa rút vừa phá hoại, trong lúc rút vẫn bắn phá để đảm bảo an toàn. Tôi chứng kiến thị xã Lạng Sơn bị phá hủy hết. Những tòa nhà lớn xây từ thời Pháp, lính Trung Quốc cứ ốp bộc phá ở hai đầu và một quả ở giữa. Khi bộc phá nổ, tòa nhà không sập hẳn nhưng cũng tan hoang không thể sửa chữa được nữa”.
Cựu binh biên giới phía Bắc kể về trận Bình độ 400 - Ảnh 1

Bản đồ trận chiến ở Bình độ 400.

Và chiến tranh chưa kết thúc. Quân Trung Quốc vẫn đóng sát biên giới gây áp lực quân sự, tiếng súng vẫn nổ từng ngày. Ở khu vực Lạng Sơn, năm 1981 lại diễn ra một trận đánh lớn ở khu vực bình độ 400 thuộc xã Thanh Hòa, huyện Cao Lộc. 

Trận này, ông Hùng là người trực tiếp tham gia. Ông kể lại:  “Trận Bình độ 400 có nhiều trung đoàn tham gia nhưng trung đoàn 2 lúc ấy được tướng Hoàng Đan đến tận sở chỉ huy động viên chiến đấu. Khu vực này có đặc điểm là sườn phía mình dốc còn phía bên Trung Quốc thì thoải hơn nên lính Trung Quốc đào hầm bê tông trú ẩn và làm được cả đường cho xe chạy. 

Lúc đó Trung Quốc xua quân chiếm giữ điểm cao này còn ta đưa quân lên phản kích lấy lại. Quân Trung Quốc có lợi trên cao và có công sự vững chắc cho nên mình chỉ pháo kích và dùng đặc công đánh thôi chứ không ào ào đánh cả trung đoàn được. Chúng tôi ở tuyến sau cứ áp sát vào là pháo bắn như mưa lại phải bò xuống không tiến lên được”.
Cựu binh biên giới phía Bắc kể về trận Bình độ 400 - Ảnh 2

Cựu binh Nguyễn Mạnh Hùng - người mặc áo đen ngoài cùng bên trái ảnh. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Nhiều cựu binh tham gia chiến tranh biên giới phía Bắc đều kể rằng quân Trung Quốc có rất nhiều pháo và bắn không tiếc đạn. Tuy nhiên, kỹ chiến thuật của lính bộ binh Trung Quốc thì không bằng lính Việt Nam. 

Ông Nguyễn Mạnh Hùng nói: “Nếu đụng độ thuần bộ binh thì lính Trung Quốc kém xa lính mình. Về sau chúng tôi phát hiện ra là lính TQ không phải tất cả được trang bị vũ khí, nhiều tên đi tay không. Mà những loại đấy chúng tôi cho chỉ là bọn đi đánh hôi. Có nhiều tên chết tay vẫn ôm một bao khoai lang. Không thể bằng lính mình được huấn luyện bài bản. Chúng chỉ ào ào xông lên nhưng hễ gặp hỏa lực mạnh là nó chạy. 

Thêm nữa, sau này có lần chúng tôi gặp một quả đồi mà Trung Quốc từng đóng thì thấy có mặt đất chi chít hầm hàm ếch tránh pháo, hướng tránh thì đúng nhưng mật độ thì dày như tổ ong. Về nguyên tắc, đào dày như thế dễ thương vong lớn nếu chẳng may trúng pháo. Điều đó cho thấy lính không tinh nhuệ”. 

Đặc biệt, Việt Nam có những vị tướng dày dạn trận mạc. Như ở biên giới phía Bắc thời đó có tướng Hoàng Đan nổi tiếng với câu nói “sống, chết, thời, vận, số”. Có câu chuyện nói rằng khi ông đi thị sát gặp lúc địch bắn pháo như mưa nhưng ông vẫn ngồi yên quan sát và nói đại ý số anh chết thì đạn pháo nó còn biết đường tìm vào hầm của anh. 

Ông Nguyễn Mạnh Hùng kể rằng tướng Hoàng Đan thường hay lấy một câu chuyện ngụ ngôn để động viên lính. Câu chuyện là có một ông bị thầy bói bảo là số bị hổ vồ cho nên không sống gần rừng, không dám vào vườn bách thú. Nhưng một hôm vào chùa nhìn thấy tượng con hổ hoảng quá đập đầu vào tường mà chết. 

Với những người chỉ huy và bộ đội như vậy nên một dải biên cương của tổ quốc đã được bảo vệ vững chắc. Sau khoảng 1 tháng chiến sự kịch liệt, cả hai bên đều rút lực lượng xuống không giữ bình độ 400 nữa và biến nó thành túi đựng pháo.

Nỗi ám ảnh chiến tranh
Sau trận chiến tháng 5/1981 gần 20 năm, ông Hùng viết bài thơ Bình độ 400 với nhiều hình ảnh vô cùng xúc động. Chẳng hạn: “Lắc lư xe quan tài chạy về sau, máu rỏ xuống đường cuộn vào cát bụi” hoặc “Đạn cày xới đất tơi trồng cây tốt, tưới máu người cướp giữ đất biên cương”.
Cựu binh biên giới phía Bắc kể về trận Bình độ 400 - Ảnh 3

Tập trường ca của cựu binh Nguyễn Mạnh Hùng. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Bình độ 400
Đêm tháng Năm vào bình độ 400
Đoàn xe trôi êm tầm đại bác
Thuốc súng tanh lá rừng kêu xào xạc
Chúng no máu rồi không cắn nữa đâu

Lắc lư xe quan tài chạy về sau
Máu rỏ xuống đường cuộn vào cát bụi
Lại xe quan tài vượt lên lầm lũi
Tốp thương binh bê bết máu mặt mày

Đám giặc kia thánh phật dạy ăn chay
Chẳng kiêng gì ngày Rằm mùng Một 
Đạn cày xới đất tơi trồng cây tốt
Tưới máu người cướp giữ đất biên cương

Tư lệnh Hoàng Đan trận này cầm quân
Ông bảo rằng "sống chết thời vận số"
Cả trung đoàn ào ào như thác lũ
Bình độ 400 bình độ trận người

Những chàng trai sống chết trận này ơi
Máu đổ xuống ông trời tuôn nước mắt
Ơn nhớ mãi thân người đi giữ đất
Người trở về ăn, sống, ở ra sao?
Ông bộc bạch về nỗi ám ảnh đã thôi thúc ông viết nên những câu thơ ấy:  “Khi tôi hành quân trên đường gặp những chiếc xe quan tài chở tử sĩ từ mặt trận về tuyến sau và những chiếc xe quan tài không từ hậu phương tiếp tục chạy lên biên giới. Hồi ấy cũng chu đáo hơn trước, bộ đội hy sinh có quan tài để khâm liệm. Nhưng đang thời chiến, khâm liệm chỉ sơ sơ và đợi xe chở đạn vứt các hòm đạn xuống thì đặt quan tài lên chở về sau. Vì thế nên khi xe chạy, máu từ trong quan tài chảy ra nhỏ xuống đường.
Nhưng chúng tôi còn sợ hơn khi nhìn thấy xe chở quan tài trống từ hậu phương ra. Tất nhiên những xe quan tài ấy thỉnh thoảng mới gặp nhưng mà mỗi lần nhìn thấy là hãi lắm. Điều đó cho thấy chiến sự ác liệt lắm. Những hình ảnh đó đã ám ảnh tôi cho đến tận hai mươi năm sau khi xuất ngũ”. 

Tác giả cũng là người khá trăn trở với câu chuyện những người lính trở về đời thường. Những chàng trai đang tuổi bước vào đời với bao mơ ước đành gác lại để cầm súng bảo vệ biên cương, sau mấy năm chiến đấu trở về mọi thứ đều lỡ dở. Đó chính là ý nghĩa của câu thơ “Người trở về, ăn, sống, ở ra sao?”. 

Ông Hùng tâm sự: “Tôi muốn nói rằng những người lính trở về cuộc sống đời thường vất vả mưu sinh rất khó khăn. Như cá nhân tôi trở về lại đi học đại học thì thấy bình thường nhưng nhiều anh em khác vất vả lắm, phải đi bơm xe, chạy chợ rất vất vả.
Tất nhiên sự đãi ngộ cho anh em cũng có hạn thôi nhưng nếu không có chiến tranh thì cuộc sống họ sẽ khác đi nhiều. Nhiều người sẽ không phải chết, không bị thương tật và sẽ có công ăn việc làm tốt hơn vì họ không mất những năm tháng tuổi trẻ”.
Kết thúc cuộc trò chuyện ông nói với chúng tôi: “Chiến tranh là mất mát đau thương nên cần tìm mọi cách để tránh. Nhưng nếu khi hết mọi cách thì phải dũng cảm chiến đấu để trước hết bảo vệ cuộc sống của mình. Thời chúng tôi chỉ nghĩ giản đơn, bất kể kẻ nào xâm lược Việt Nam thì chúng tôi phải cầm súng chống lại”. 

 Trần Vũ
http://www.nguoiduatin.vn/cuu-binh-bien-gioi-phia-bac-ke-ve-tran-binh-do-400-a141435.html 

 

Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

Tưởng nhớ những người lính các thời đại bảo vệ Tổ quốc Việt Nam


Bao nhiêu người giống tôi lứa tuổi
Đã trở thành huyền thoại mây bay
“Không ai biết mặt đặt tên nhưng họ đã làm nên ĐẤT NƯỚC”
---------------
Trời xanh sau trước gặp nhau
Các thời chinh chiến chụm đầu “Thiên Phây”:

1- Hai Bà bảo tớ cầm chầy
Đánh quân Mã Viện chết đầy hai bên
Chúng dân thương xót khắc tên
Tuyền là bậc tướng đặt lên chùa chiền

2. Bà Triệu thúc cồng đi liền
Giữa lúc trận tiền miềng thấy chú voi
Ba vòi quật giặc tơi bời
Rụi mắt kêu trời ! cặp vú Triệu Trinh

3.Tớ theo Lý Bí chiến chinh
Sau về Dạ Trạch toàn rình bẫy chim
Giặc Lương đói quá đi tìm
Cua cá, ốc ếch rồi dìm giết nhau

4.Đại vương- Bố Cái to đầu
Mỗi khi xuất trận một chầu nem tai
Thắng thua hai bên chạy dài
Mình lên mạn ngược làm giai xứ Mường

5. Theo họ Khúc ra sa trường
Mũi tên thì ít nên thường đậu bay
Ném hòn đá bằng nắm tay
Vấp ngã xuống hố chết ngay tức thì

6. Vua Đen đến núi Ba Vì
Tớ lạc vào bản tên gì ? toàn tiên
Ban ngày họ sống rất hiền
Mặt trời chợp mắt họ liền chọi nhau!
Toàn thân thể tớ nhức đau!
Quá giang mấy tháng trực chầu Diêm vương…

7. Mình theo phò mã họ Dương
Đánh quân Nam Hán vào đêm sương mờ
Ngô Quyền không thích làm thơ
“Đằng giang tự cổ huyết do hồng đào”
Anh em tử trận được vào
Miếu thờ bé xíu ngạt ngào hương thơm!
Chiến thắng, Ngô Vương mời cơm
Mình nhận bổng lộc tinh tươm rồi về!
Xương Văn, Xương Ngập lại thuê
Đánh nhau loạn xạ mình nghê lắm rồi
Hai thằng Thái tử quá tồi
Nhà Ngô sụp đổ loạn mười hai quân!

8. Thua trận bị bắt thay quần
Miềng theo Bộ Lĩnh đóng gần Hoa Lư
Một tên chủ tướng rất hư
Bắt lính bọn tớ trả thù linh tinh,…
Làm lính cận vệ Nhà Đinh
Thấy quan đổi chác tiền tình vợ con
Dê thui Tràng Yên rất ngon
Tiên Hoàng khi mất tay còn nâng ly!


9. Vân Nga biết trước bỏ đi
Lê Hoàn sướng quá ôm ghì lấy ngay
Vài tháng Thái hậu vung tay
Long bào phấp phới, cối chày âm vang
Lính lác được bữa tiệc sang
Sau theo Thập đạo Lê Hoàn đánh nhau!
Đinh Điền, Nguyễn Bặc thua đau
Bình Chiêm- Phá Tống đục ngầu máu me
Tử trận ở dưới lũy tre
Miềng về thiên cổ vẫn nghe tiếng hò!

10. Ngọa triều chân giữa rất to
Chính là trĩ ngoại sưng thò thành đuôi
Công Uẩn tuyển mộ thân tôi
Đồng hương kinh Bắc một thời cá tôm!
Giờ đây nhớ mãi một hôm
Ngọa triều róc mía chồm chồm đầu sư
Miệng rằng: “ tu gì mà hư
Cơm độn thịt chó ngất ngư rượu chè”…

Dời đô mình phải đi bè
Gặp cơn sóng dữ sớm về cao Xanh

11. Thái Tổ định đô Long Thành
Chiếu thơ bay bổng dân lành hò reo
Kinh kỳ ngày ấy rất nghèo
Chùa chiền vài chiếc lèo tèo ngựa xe

Công Uẩn trị quốc tài nghê
Đền chùa xôi oản xum xuê bốn mùa
Sư anh, sư cô, sư chùa
Tắm tiên kỳ cọ tẩy xua bụi trần

Miềng làm lính lệ có phần
Sau lên biên ải đi tuần rồi thăng!

12.Nhạc hiếu Thái Tổ tằng tằng
Tam vương loạn xạ “mày thằng” tranh ngôi
Miềng theo Phụng Hiểu không tồi
Công trạng dẹp loạn được ngồi chiếu trên

Bạn miềng theo Tam vương điên (3 em của Lý Thái tông giành ngôi)
Được tha tội chết, đày miền núi xa!

Hồi đó thọ nạn trộm gà
Tra xét nhiều vụ hóa ra tại chùa
Oản xôi chay tịnh nhạt chua
Phật tử mất nết gom mua nhốt lồng

13. Dưới cờ vua Lý Thái Tông
Đánh quân Chiêm ở phía trong mấy lần
Đồng đội mình nát dưới chân
Voi Lào hung dữ đến gần Ái châu (Thanh Hóa nay)

Đánh nhau với Nùng Trí Cao
Phá  mưu Tống nhập ta vào Ung Châu!
Bạn mình bị ném vỡ đầu
Dân Tày chữa trị rất lâu không về


14. Viễn chinh phương Bắc mải mê
Hỏa công đánh phá thành trì hai châu

Một lời nhắn nhủ mai sau :
Bọn mắt một mí quân Tầu lỳ gan
Chúng lao vào lửa cả đàn
Tự thiêu, tự vẫn nhiều ngàn dân binh !

Bao mồ viễn xứ lặng thinh
Trở về Tổ quốc chúng mình chắp tay:
“Cầu Trời phù hộ chúng mày
Ngàn năm sau nữa đất dày phủ lên!”


Như Nguyệt soi dãy Nham Biền
Quách Quỳ xua lính trâu điên trả thù
Sơn lam chướng khí mịt mù
Quân Tống mắc bệnh gà rù H5
Chúng mình trấn ải bờ Nam
Tổ tôm, tá lả, quýt cam, rượu trà

Thái úy chưa đến tuổi già
Đêm đêm màn trướng đàn bà vào thăm

15. Cha xuất ngũ về nuôi tằm
Chiến chinh sứt sẹo được tầm mẫu hai
Miềng đang lùa vịt, quăng chài
Chiều mõ bớ bớ,… sáng mai lên đường
Thương con mẹ ấn hũ tương
Cha cho vài mẹo sa trường tránh tên...

Quân Chiêm xâm lược cuồng điên
Cướp bóc, phá phách, hiếp liền bà xinh!

Dừng chân Nhật Lệ- Quảng Bình
Các o trẻ đẹp ra đình đón quân
Nhiều chú tụ bạ lần chần
Rủ mình đảo ngũ vào dân sống nhờ
Chợt nghe vang vọng câu thơ
Sơn hà Nam quốc mở bờ cõi xa…

Lìa trần trong tiếng hò la
Trận tiền khói lửa quân ta chết nhiều
Giờ đây trong cõi phiêu diêu
Khói hương trần thế mình liều về chơi
Thấy nhiều “ma học” khơi khơi
Bới đất lừa cốt ở nơi dương trần!

(còn nữa)

Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

Thất (7)


Truyền thông Italia cho biết một chiếc máy bay trực thăng chữa cháy của Italia đã bị rơi tối ngày 27/7; 2 phi công tử nạn


Vụ tai nạn xảy ra vào khoảng 16h57' ngày 25/7 (theo giờ địa phương). Trực thăng quân sự Ấn Độ rơi, 7 người thiệt mạng

Máy bay MD-83 (chuyến bay AH5017) của hãng Swiftair do Air Algerie thuê và vận hành đã mất tích khoảng 50 phút sau khi cất cánh từ thủ đô Ouagadougou của Burkina Faso vào ngày 24/7 để đến thủ đô Algiers của Algeira, rơi ở Mali

Chuyến bay từ thiện của Mỹ rơi ở Thái Bình Dương ngày 23/7. Phi công 17 tuổi người Mỹ tử nạn. 

MH17 Malaysia Air được cho là bị bắn rơi ở Ukraine hôm 17/7

MH 370   Malaysia Air mất tích 8/3 ở Ấn độ Ddương

Tối 23/7, chiếc máy bay AT R-7   2 của hãng hàng không TransAsia Airways rơi ở Bành Hồ Đài Loan

Vào lúc 7h46 phút ngày 7/7, máy bay trực thăng Mi171 rơi tại thôn Hòa Lạc, xã Bình Yên, huyện Thạch Thất, Hà Nội.

17-7-2014: Trực thăng cứu hỏa Hàn Quốc gặp nạn
14-7-2014: Máy bay quân sự rơi ở Campuchia
24-6-2014: Máy bay A310-300; AP-BGN; Chuyến bay PK756 của Hãng hàng không quốc tế Pakistan International Airlines (PIA) bị trúng đạn

5-6-2014: Máy bay JH-7 Flying Leopard của Trung Quốc bị rơi

17-5-2014: Thảm kịch xảy ra đối với chiếc máy bay quân sự An-74 TK300 của không quân Lào


Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2014

Trang trại Baochau nature farm: công nghệ EM đem lại sản phẩm sạch



 By MaiNguyen
Hẹn hò mãi, chủ nhật tuần qua bạn gọi đi Sóc Sơn thăm trang trại của vợ chồng anh Thắng, chị Hương. Baochau nature farm - cái tên nghe như chẳng liên quan đến lợn gà ấy không phải ngẫu nhiên anh đặt mà do một nhà nghiên cứu người Mỹ khi đến thăm trang trại đã gợi ý lấy tên đó và chính nhà nghiên cứu ấy đã đưa tên vào hệ thống định vị toàn cầu các trang trại dùng công nghệ sạch. Câu chuyện trang trại bắt đầu “nổ”. Anh Phong – cấp vụ của một Bộ lớn nói “Nếu tôi nhận lời đi trang trại cuối tuấn ở ngoại thành thì cả năm không hết”. Trang trại chúng tôi đến, từng được truyền thông giới thiệu có công nghệ chăn nuôi sạch nhất Việt Nam.

Khoa học có đất sống
Chế phẩm EM là công nghệ vi sinh do giáo sư TeruoHiga người Nhật phát minh từ năm 1958 được ứng dụng ở nhiều nơi trên thế giới. Từ hơn 10 năm trước đã áp dụng ở một số vùng trong nước ta. Anh Thắng đã khảo cứu sách, đi Đài Loan thăm trại chỉ hai người nuôi cả vạn con gia súc gia cầm, đến Đại học Nông nghiệp gặp các thầy, nhờ giúp đỡ. Tiến sĩ Phạm Khắc Quảng, một chuyên gia hàng đầu ở Việt Nam về chế phẩm EM chỉ dẫn, cho chế phẩm gốc và tài liệu. Thắng đã pha chế thành công chế phẩm mang tên “Nguyễn Đại Thắng” với các nhóm chế phẩm có đặc tính sinh học:

(1) Khử mùi chất thải chăn nuôi bằng cách phun xuống nền chuồng, trộn với mùn cưa lót nền. Nền rộng, lợn vận động trong chuồng khỏe hơn lợn béo nằm lồng, mùn chế phẩm bám vào da lông móng mũi làm lợn khỏe sạch hơn cách phun nước, rửa chuồng. Công nghệ này tiết kiệm điện, nước, nhân công... Sau thời gian dài đến... 4 năm mùn đó trở thành phân bón cây trồng, đặc biệt là trồng hoa cây cảnh.

Thắng dẫn khách thăm hệ thống chuồng, anh bới bốc một nắm mùn đưa khách xem, anh ngửi, khách ngửi thấy mùi như đất sạch. Để chứng minh nước thải sạch, có giám đốc nhà máy từng dẫn khách tới nơi nước thải vào hồ cá và uống một cốc!
Hàng loạt chế phẩm EM thứ cấp do anh Thắng pha chế thành công có thể áp dụng hữu ích trong xử lý môi trường chuồng trại, ao hồ, hệ thống làng nghề, cống rãnh… ở nông thôn hoặc tạo thành quy trình chăn nuôi, trồng trọt sạch sẽ, bền vững. Anh Thắng sẵn sàng giúp đỡ, chuyển giao công nghệ cho các trại chăn nuôi tập trung hay các vùng nông thôn có nhu cầu. Xin liên hệ theo số điện thoại anh Thắng: 091651.1886, email: nguyendaithang77@gmail.com. (QĐND)
http://www.baochaufarm.com

                             Chủ trại (trái)

(2) Chế phẩm khác làm men ủ thức ăn. Thắng bảo đó là công đoạn quan trọng để tăng hiệu suất chuyển hóa thức ăn, hình thành chất lượng thực phẩm, tiết kiệm chi phí đầu vào, hoàn toàn khác xa với những bao thức ăn công nghiệp cho gia súc lớn nhanh như thổi.

Trong khi thức ăn công nghiệp đóng bao, sau 45 ngày gia cầm nặng tới 2 kg, lông tơ không kịp rụng, nhà nông thích, bởi vẫn có đầu ra!?. Anh Hưng chủ trại bên Hòa Lạc sang thăm, nói “chăn nuôi nhàn lười” không có sản phẩm ngon sạch. Một khách xác nhận “Con gia cầm công nghiệp ấy ở nước ngoài giá ngang cốc bia tươi, thấp hơn mớ rau muống sạch”. Nghe có vẻ xa lạ nhưng đó là thực tế của người trải nghiệm các chuyên công du!

Trang trại Thắng Hương thành công ở hai điểm quan trọng này nên đã duy trì và phát triển đàn lợn cho vài ngàn lợn giống mẹ gốc Móng Cái thuần Việt to khỏe lai với lợn “Tây” lực lưỡng, và 10 ngàn con gà thịt, gà trứng giống Ai Cập, gà xương đen, gà ác tiềm thuốc bắc mà phố chợ ẩm thực Hà Nội săn đón cho thực khách sành ăn... Thịt và trứng ở trại Thắng Hương đã có “thương hiệu” trong giới sành đồ sạch, cho các buổi liên hoan đông người ăn và chia thực phẩm; khác hẳn với lợn gà... tăng trọng nhiều mỡ, tích nước, ít dinh dưỡng nhưng “giàu độc tố”.

Thắng cho biết: “Nếu trang trại không sạch, dân chúng xung quanh phản đối, nhiều trại chăn nuôi đã phải đóng cửa. Một số đại diện công ty bán thức ăn chăn nuôi rất muốn tìm hiểu kỹ công nghệ, tôi sẵn sàng chuyển giao cho những người chăn nuôi để có được một nền nông nghiệp sinh học, thực phẩm sạch thay thế cho các sản phẩm hiện nay đang lạm dụng chất kích thích tăng trọng đánh vào sức khỏe người tiêu dùng, hủy hoại môi trường...”

Khách thăm nói: Các dự án chăn nuôi sạch nên tiếp cận trại của anh Thắng để nhận chuyển giao công nghệ, thay đổi cách chăn nuôi cũ.

Chuyên gia Phong cao hứng: Các nhà cung cấp thức ăn chăn nuôi chỉ biết lợi nhuận, khuyến khích nuôi gia công, ứng vốn, giống; ngân hàng cho vay làm hệ thống chuồng trại,... để nông dân cảm thấy chăn nuôi “nhàn nhã” nhưng giá trị gia tăng bị căng mỏng, người chăn nuôi cố theo đuổi để có thêm chút thu nhập. Các dự án môi trường xếp tập xin ngân sách bởi môi trường là việc chung! Các hầm khí sinh học Bioga cục bộ không giải quyết triệt để môi trường vì các hầm đơn không đủ thời gian lắng lọc làm sạch nước thải, dùng không hết, khí xả ra ngoài, mà đầu tư nhiều bể lớn lại cần vốn. Phong cho biết thêm, dân ta nhiều chục năm gần đây rất cảm hứng sử dụng dầu thực vật trích ly theo công nghệ dùng hóa chất lấy tối đa dầu, trong khi đó có nhiều nhà nhập khẩu ở nước giàu ăn sạch lại rất thích mua dầu ép thô, họ trốn cái bẩn độc trong dầu trích ly đóng chai... bán khuyến mại! 

Niềm say mê của chủ trại
Xuất thân từ người con quê lúa Thái Bình nhưng được đào tạo để trở thành cán bộ cao cấp trong quân đội, cùng với những khát vọng qua những chuyến tham quan khảo sát mô hình nông trại ở nước phát triển từ những năm còn ngồi ghế giám đốc công ty Thăng Long (Bộ Quốc Phòng), bây giờ anh mới có dịp trở lại làm người nông dân thực thụ, nhưng với cái chất của một người trí thức làm nông nghiệp. Qua những chuyến công du khắp các vùng quê Việt Nam, đâu đâu anh cũng bắt gặp sự ô nhiễm mối trường ở các làng quê Việt, từ những trang trại với quy mô hàng vạn con gà, hàng nghìn con lợn cho đến những hộ gia đình chỉ nuôi một vài con lợn con gà, con trâu con bò…xung quanh đặc một mùi xú uế của gia súc gia cầm, ở đâu cũng là những bao cám công nghiệp…Từ những trăn trở đó anh tự đặt ra cho mình một câu hỏi: nước ngoài làm được tại sao mình không làm được, vậy là anh bắt tay vào làm. Nhưng sự đời không đơn giản thế, bao nhiêu năm trong quân đội, bao năm lăn lộn với thương trường nhưng chưa bao giờ anh làm gì liên quan tới nông nghiệp, nên khi biết ý định của anh, nhiều người nghi ngờ tính khả thi của nó. Bạn bè bảo “Với lương quân đội, nhà mặt phố cho thuê là sống khỏe. Bao người đầu tư trại chăn nuôi với tiền cả núi, thu về từng xu...Thắng tự mua vào vất vả?”. Mẹ và vợ anh đôi lúc phàn nàn. Ai cũng nghĩ vậy thì theo “đạo nhàn” sống qua năm tháng, xã hội đi ngang, đất đai hoang hóa, môi trường ô nhiễm... gây dựng gì cho hôm nay và tương lai?

Anh Hưng, một người có nhiều năm sống và làm việc ở nước Nga, hiện nay là chủ mấy nhà hàng ở phố cổ cũng đánh xe đưa hai cán bộ kỹ thuật trang trại của anh ở mạn Hòa Lạc đến học hỏi kinh nghiệm. Hưng nói “Làm nghề này vất vả lắm, mỗi tháng tôi đi lại hết hơn 10 triệu đồng tiền xăng, đêm thức chăm lợn đẻ. Giống lợn mán nuôi sạch rất khó, 10 con được 3, kiên trì thì đến các lứa sau sẽ khá hơn. Chúng tôi phải mang cả đất ở “bản quán lợn mán” về để giữ sức khỏe lợn. Lợn mán hay lợn thả rông nhiều giun sán lắm”. Biết sản phẩm của anh Thắng đã qua kiểm nghiệm, khắc phục được những hạn chế đó nên phải đến để học hỏi kinh nghiệm và kỹ thuật nhằm phát triển trang trại của mình.

Tuy nhiên, trong bữa cơm thân mật đó thực khách lăn tăn đến vấn đề quản lý ở trang trại. Anh Thắng tiết lộ, để quản lí từ xa, anh lắp đặt hệ thống camera nối mạng, ở đâu cũng xem được trại của mình, phải nhắc nhở luôn để người làm chú ý quy trình. Kỹ năng quản lí trang trại tưởng đơn giản nhưng khá phức tạp bởi đó là quy trình có quy mô đầu vào ra, quyền lợi và nghĩa vụ người lao động, an ninh, an toàn môi trường... Nói chung là vất vả, không thích hợp với người thú vui điền viên.

Chị Hương vợ anh Thắng đi lại trao đổi với người làm, chị đội nón lá rộng vành, hái rau (hơi giống sơn nữ), chuẩn bị bữa cơm trưa cho khách. Một bữa cơm với toàn sản phẩm sạch của trang trại, cái hương vị của đồng bằng Bắc bộ, với những húng láng, đinh lăng, lá mơ, rấp cá…và đã làm cho những thực khách như chúng tôi vỡ lẽ: ở thành phố để có một bữa cơm với toàn sản phẩm sạch như vậy không hề đơn giản, kể cả với những người giàu. Bởi có đến đây, mới hiểu rằng để tạo ra những sản phẩm ngon, đẹp mắt thì người nông dân nào cũng có thể làm được với sự hỗ trợ của thuốc trừ sâu, phân hoá học, cám công nghiệp…nhưng để tạo ra một sản phẩm sạch thực sự, với toàn thực hữu cơ như ở trang trại này không phải ai cũng làm được…..Chị nói rằng mình làm mình hiểu, nhưng quan trọng những nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý nông nghiệp có quan tâm sâu sắc đến những điều này?